Home » Ẩm thực Việt Nam
Gọt vỏ thật sạch, thái mỏng theo chiều dọc miếng gừng. Bí quyết để lát mứt trắng và bớt cay là ngâm qua nước gạo một đêm, sau đó vớt ra rửa sạch, chần qua nước phèn chua để ráo rồi mới rim thành mứt. Khi rim phải đúng tỷ lệ 1 kg gừng với 1 kg đường cho vào chảo rộng.
Thông thường, lúc gừng đang sôi, lấy đũa đẩy hết gừng ra xung quanh chảo, ở giữa tạo thành một cái lỗ có nước đường, cứ như vậy múc nước đường trong đó rưới đều xung quanh gừng để cho đường bám đều lên gừng. Đợi mứt gần khô (còn hơi dẻo dẻo) bớt lửa thật nhỏ nhanh tay xóc đều, không nên dùng đũa nhiều quá, gừng sẽ bị nát, mất đẹp.
Có thể nói khá quen thuộc lại luôn có sức quyến rũ với nhiều người chính là mứt gừng lát.
Nhưng độc đáo nhất là mứt gừng củ (hay còn gọi là mứt gừng xăm). Gừng vừa đào lên, chọn những củ non nhất và không bị thối hỏng, không bị tổn thương bên ngoài, rửa sạch đất bám trên vỏ, các khe và chân nhánh gừng. Để nguyên củ gừng, tỉ mẩn dùng dao nhỏ cạo hết vỏ, ngâm nước lã chừng vài giờ, sau đó vớt gừng ra xẻ làm đôi để xăm cho dễ.
Bí quyết làm mứt gừng củ ngon của người quê tôi chính là ở công đoạn xăm và luộc gừng. Trước khi xăm phải xoa muối vào để gừng mềm. Trong quá trình xăm gừng phải vừa xăm vừa xả cho hết mủ thì gừng mới trắng. Gừng sau khi xăm phải mềm, nhưng không được nát hay cong queo, cho vào trong nước vẫn thấy căng phồng như lúc chưa xăm. Vừa xăm xong thả gừng vào bát nước đã cho một ít cốt chanh, mang ra phơi nắng độ vài giờ, xả nước lạnh thật kỹ, ép khô rồi đem luộc.
Khi luộc gừng phải cho thật nhiều nước để khi sôi, gừng tự đảo trong nồi theo sự cuộn tròn của nước và chín đều. Cuối cùng ép gừng thật khô lần nữa mới bỏ vào rim. Chảo mứt gừng được chăm chút cho đến khi nước đường khô dần, vón lại trắng óng ánh quanh những củ gừng săn chắc. Khi kết thúc, trải mứt ra mâm, dùng tay nắn củ gừng cho tròn giống củ gừng sống, sấy lại trên than vùi tro cho củ mứt hoàn toàn khô.
Một bữa, ông bạn thân ở Vĩnh Long đãi tôi những món chỉ có ở miền Tây. “Cho một cống nhum quay lu, một con rùa trứng nữa...”, nghe nó gọi món mà tôi hết hồn, nhưng sau vài ly đưa cay, con cống nhum nặng hơn ký biến mất trên đĩa.
Cống nhum có những con nặng cả cân, đem quay lu vàng rộm trông như heo sữa “mi ni”.
Bạn bảo: “Chỉ bạn thân mới dành đãi nhau những thứ ghê gớm đó”.
Chuột cống nhum là loại chuột lớn, sống đơn độc trên các gò đất giữa đồng. Loại chuột này hung dữ, lông đen xám, nhưng thịt ngon và không tanh như chuột cơm. Cống nhum có những con nặng cả cân, đem quay lu vàng rộm trông như heo sữa “mi ni”.
Đi chợ gặp cống nhum, mấy bà dẫu ghét cay đắng thói nhậu nhẹt chém gió của chồng, nhưng cũng không thể không mua về, bởi thứ này không phải lúc nào cũng có bán. Hồi đầu năm, chúng tôi đi chơi Cần Thơ, quần khắp các nhà hàng to nhỏ hỏi món cống nhum quay lu mà không đâu bán. Chủ nhà hàng bảo mấy anh muốn ăn thì phải đặt trước, bởi không phải mùa nào cũng có.
Bạn tôi nhắn: “Khi nào mày vô báo trước để tao sai mấy đứa đi săn cống nhum đãi mày, ăn một miếng cống nhum là để sống đời đó nghen".
Món cống nhum quay lu được thực khách rất ưa thích
Tới Phố đêm bên bờ sông Hương, bạn có thể tìm thấy món bánh tráng nướng ngay dưới gầm cầu Trường Tiền, phía sườn cầu bên phải.
Đặc điểm dễ nhận dạng của những quán bánh này chính là bếp than hồng rực giữa tiết trời lạnh giá. Người ta chỉ cần nhìn thôi đã muốn nhanh chân đến gần sưởi ấm và hít lấy hít để cái mùi thơm khó cưỡng ấy.
Một chiếc bánh tráng nướng chỉ có giá 10.000 đồng - Ảnh: Linh San
Mặc dù bánh tráng nướng không phải là món ăn được “khai sinh” trên đất Huế, nhưng người cố đô lại rất biết cách biến tấu để nó phù hợp với khẩu vị hay phong cách ẩm thực của riêng mình.
Nguyên liệu “chế” ra một chiếc bánh tráng nướng gồm có bánh tráng, trứng gà, hành lá, pa-tê và đặc biệt là mắm ruốc Huế. Chỉ một chút mắm ruốc Huế nổi tiếng này thôi cũng đủ để làm nên vị khác biệt của bánh tráng nướng sông Hương núi Ngự.
Đầu tiên, trộn pa-tê với trứng gà, hành lá và mắm ruốc Huế cùng một chút gia vị. Phết đều hỗn hợp này trên chiếc bánh tráng, rồi đặt lên vỉ nướng lên bếp than hồng.
Vừa nướng vừa xoay bánh để không bị cháy - Ảnh: Linh San
Người bán rất khéo léo xoay tròn chiếc bánh đều tay để nướng chín đều từ ngoài rìa vào giữa bánh mà không bị cháy. Trước khi được gập đôi lại, bánh tráng nướng còn được "son phấn' thêm bằng một vòng xoáy tương ớt trông cực kỳ ngon mắt.
Cũng phải nói thêm rằng, mặc dù người Huế nổi tiếng với sở trường ăn cay, nhưng họ rất biết chiều lòng du khách. Đơn giản như khi nghe bạn nói giọng Bắc, những người bán hàng sẽ tự điều chỉnh lượng tương ớt ít đi để bạn vẫn có thể thưởng thức món ăn theo phong cách Huế mà không bị cay… chảy nước mắt.
Bánh tráng nướng được “trang điểm” bằng tương ớt - Ảnh: Linh San
Khi bánh sắp chín sẽ được gập đôi lại - Ảnh: Linh San
Bánh được nướng cho tới khi mùi thơm của trứng gà lan tỏa, tức là đã chín. Bên bếp than hồng, ngồi thưởng thức miếng bánh tráng nướng giòn giòn, cay cay, béo ngậy, thơm phưng phức sẽ là một kiểu trải nghiệm phong cách ẩm thực thú vị khó tả.
Người ta nói tới Huế mà không ngắm cảnh sông Hương thơ mộng coi như bạn chưa từng tới Huế. Còn với tôi, nếu như đi ngắm cảnh bên bờ sông Hương mà không thưởng thức món bánh tráng nướng coi như chỉ hấp dẫn một nửa.
Giữa cái rét buốt của khí trời những ngày vào đông, được thưởng thức tô cháo lươn nóng hổi, vàng óng màu nghệ, vị bùi bùi của thịt lươn, chút ngọt thanh từ nước dùng, thêm vị cay nồng ấm từ hạt tiêu sẽ thấy cái lạnh ngày đông trôi qua nhẹ nhàng biết mấy.
Những ngày cuối năm, trời Sài Gòn phảng phất hơi lạnh. Sáng ra, chỉ muốn vùi đầu trong mớ chăn mền mà ngủ tiếp. Cái lạnh miền Nam chỉ thoảng qua, không đủ làm người ta sợ, không đủ làm toàn thân phải co ro, run lên bần bật như ngày còn ở quê nhưng vẫn có chút gì đó xốn xang, nao núng.
Giờ này ở quê, thời tiết chắc đã vào tâm điểm của mùa lạnh rồi. Ai muốn ra đường thì phải quấn cả cái áo dày cộp như cái mền, thêm đôi bao tay, vớ chân nữa mới mong hơi lạnh không làm cho cơ thể tê cứng lại. Tôi sợ nhất là phải chạy xe băng băng ngoài đường giữa thời tiết lạnh lẽ như thế, sợ những cơn gió vô tình cứ quất thẳng vào mặt từng cơn, rát buốt. Quê tôi ở là một vùng đất thuần nông, với công việc chủ yếu là làm ruộng, làm vườn. Vì thế, dù trời có lạnh đến độ nào người ta vẫn phải ra đồng làm việc cho kịp mùa vụ. Trẻ con thì vẫn cố đến trường đều đặn và chăm chỉ mỗi ngày. Cuộc sống tuy vất vả, trời dù có khi mưa nhiều, nắng lớn nhưng rồi mọi thứ cũng thành thói quen, thành thông lệ.
Trời đã bước vào những ngày đầu tháng 12, Tết sắp đến, cái lạnh, cái rét càng lúc càng trở nên “bẳn tính” và khó chịu hơn. Nhưng với người dân ở quê, phải có chút lạnh mới ra không khí của những ngày Tết, nếu cứ nắng như ở Sài Gòn thì Tết lại hóa “vô duyên” lắm. Giờ này ở quê chắc mọi người đã thức dậy hết rồi. Tôi thấy nhớ mẹ quá đỗi, có lẽ mẹ đang cặm cụi trong bếp chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà. Có thể mẹ đang vần nồi cơm, thổi nồi xôi mà cũng có thể là đang nhóm lửa cho nồi cháo thêm nóng. Đó là thói quen của mẹ trong những ngày đông lạnh. Nhắc đến cháo lại thấy thèm hương vị sóng sánh, dậy mùi và ấm nóng của cháo lươn nơi quê nhà mà ngày xưa vẫn được mẹ nấu cho ăn. Thứ cháo ấy tuy dân dã, bình dị nhưng lại mang đến cho người ăn cảm giác hài lòng, thích thú. Không phải tôi không kiếm nổi một địa chỉ bán cháo lươn ở Sài Gòn để thưởng thức mà cái khó là không kiếm đâu ra nồi cháo lươn đúng hương vị như ở quê mình.
Thứ cháo ấy tuy dân dã, bình dị nhưng lại mang đến cho người ăn cảm giác hài lòng, thích thú. Nguồn ảnh: internet
Ở quê tôi, vào sáng sớm, người ta thường nấu cháo để cả nhà dùng vào bữa sáng, dù đó là mùa hè mát mẻ hay mùa đông lạnh giá. Vì cháo dễ ăn, ấm nóng và còn tốt cho sức khỏe nữa nên được mọi người ưa chuộng. Trong rất nhiều loại cháo thì quê tôi nổi tiếng vớ món cháo lươn. Đây được xem là món ăn “đặc sản” của vùng đất nhiều nắng gió này. Không quá khó để chuẩn bị một nồi cháo lươn vì nguyên liệu nấu cháo cũng rất dễ kiếm, dễ tìm, vì thế mà hầu như ai cũng có thể tự mình nấu được.
Nơi tôi ở rất nhiều kênh rạch, ao hồ nên lươn khá nhiều. Vào mùa đông, ai ngại nước lạnh thì mang cần đi câu, còn không thì bắt lươn bằng cách thả ống trúm. Cứ ban đêm cho một ít mồi vào trong ống trúm bằng tre đã được khoét lỗ, rồi sáng ra gom về kiểu gì cũng có vài con lươn mắc trúm. Để bắt được lươn không phải là dễ, vì người thả ống trúm phải thật nhanh nhạy và có chút am tường về vị trí và những nơi lươn có nhiều. Những năm về sau này, do nhu cầu nên người ta bắt đầu nở rộ cái nghề nuôi lươn để bán cho nhà hàng, quán ăn, vì thế mà việc thả ống trúm bắt lươn không còn nhiều và phổ biến như những năm trước nữa. Lươn được nuôi trong hồ tuy nhiều thịt, con nào con nấy béo tròn nhưng khi nấu không có mùi thơm, vị ngọt và chắc thịt như lươn đồng.
Cháo lươn dễ ăn, ấm nóng và còn tốt cho sức khỏe nữa nên được mọi người ưa chuộng. Nguồn ảnh: internet
Ở quê tôi làm lươn ít người dùng dao, dùng kéo mà đúng ra phải dùng thanh nứa được chuốt dẹp, nhỏ bằng cây tăm xe đạp, một đầu được vót nhọn. Cho thanh nứa vào bụng lươn và kéo một đường dài là có thể mang lươn đi làm sạch. Vì lớp da lươn rất trơn. Khó cầm chắc tay nên làm bằng cách này vừa nhanh, an toàn mà phần huyết lươn cũng mất ít hơn. Để làm sạch nhớt lươn thì có tro trong bếp, muối hột hoặc ít nước cốt chanh. Cho lươn vào chậu lớn, cho một ít muối hột vào. Muối càng mặn thì lươn sẽ quẫy càng mạnh, nhớt lươn sẽ ra nhiều và sạch hơn. Đi kèm với cháo lươn không phải là loại hành tím mà người Sài Gòn vẫn dùng để phi thơm, càng không phải là tỏi củ mà phải là hành tăm – một loại màu trắng, củ nhỏ mà nhiều nơi người ta gọi là củ nén.
Tháng 12 là mùa của hành tăm nên không quá khó để kiếm một nắm hành tăm mang đi nấu kèm cháo lươn. Củ hành sau khi giã nhỏ, xào với thịt lươn, phần lá cắt nhỏ và được cho vào khi cháo đã chín. Nồi để nấu cháo phải là nồi đất để giữ nhiệt cho cháo nóng được lâu. Gạo cháo phải lựa gạo tẻ, vo sạch, để nở xốp. Khi nước dùng sôi, gạo được cho vào một ít chứ không cho vào cùng lúc sẽ làm cho nồi cháo bị vón cục và không có độ sánh, mịn. Để hạt gạo nở bung, không bị vỡ, nát thì người nấu nhất quyết không được cho đũa hay muỗng vào trong nồi để khuấy. Một nồi cháo lươn đạt chuẩn, khi nấu xong phải nhuyễn hạt gạo, không loãng mà cũng không đặc, dậy mùi thơm đặc trưng của thịt lươn, thấm vị thơm cay từ hạt tiêu, mắm, muối và không thể thiếu màu vàng tươi của nghệ củ. Khác với nồi cháo lươn của người Sài Gòn, khi nấu người đầu bếp thường cho sả để át đi mùi thanh của lươn thì người xứ Nghệ lại sử dụng nghệ tươi hoặc bột để nấu. Nồi cháo thiếu đi màu vàng này thì coi như món ăn không đạt chuẩn và mất hết sức hấp dẫn cũng như nét đặc biệt.
Cháo lươn còn quan trọng ở việc sử dụng nồi nước dùng như thế nào. Nước để nấu cháo lươn không phải lấy từ xương heo, xương bò hay xương gà mà được tận dụng từ mớ xương lươn đã được tróc lấy thịt từ trước. Có như thế nồi cháo mới giữ được vị ngọt thanh, dậy mùi lươn mà không béo ngậy khi ăn. Khi thưởng thức, người ta múc một ít cháo vào chén, xếp thịt lươn đã xào lên trên, rắc thêm ngò gai, tiêu xay và dùng khi cháo còn tỏa khói nóng nghi ngút. Có lẽ nhờ vào những “quy tắc” ấy mà nồi cháo lươn của người xứ Nghệ luôn mang một mùi vị đặc trưng và khác biệt so với nhiều nơi khác.
Nước để nấu cháo lươn được tận dụng từ mớ xương lươn đã được tróc lấy thịt từ trước. Có như thế nồi cháo mới giữ được vị ngọt thanh, dậy mùi lươn mà không béo ngậy khi ăn. Nguồn ảnh: internet
Giữa cái lạnh buốt của khí trời những ngày đông như thế này, thật thú vị nếu được thưởng thức tô cháo lươn còn tỏa khói nghi ngút, hít hà từng thìa cháo nóng, xuýt xoa vị cay của tiêu thêm chút bùi bùi của thịt lươn đồng còn tươi mới. Tất cả cứ quyện đều trên từng thớ lưỡi, cay cay, nồng nồng mà âm ấm. Thêm một bát nước chè xanh được om trong cái tráp bằng nan tre, phủ kín bằng tấm vải nỉ, cũng đủ làm cho mọi người phải quên đi cảm giác lạnh lẽo của mùa đông.
Xưa, các loại bầu bí được gieo trồng đơn giản bằng cách dùng hạt già cho xuống đất trống sau nhà. Bí vốn có sức sống mạnh mẽ và dẻo dai, nên chỉ vài ngày sau, có thể thấy mầm cây con vươn mình đón ánh nắng mặt trời. Tuy nhiên, bí cũng “đỏng đảnh” vì phải có ánh nắng mới chịu mọc và khi dây bí đã leo giàn thì quả bí có sức sống vô cùng lâu dài: qua mùa đông khắc nghiệt mà không cần sự nuôi dưỡng của dây bí héo tàn.
Quả bí là thực phẩm dự trữ tuyệt vời cho ngày đông lạnh giá vì không sợ bị hỏng
Ngày nay, bí đao được trồng phổ biến ở chốn đô thị trong những bao đất nhỏ và giàn leo ngay trên sân thượng. Trong lúc chờ thu hoạch quả, các gia đình có cơ hội thưởng thức những đột ngon ngọt bùi, ngọn bí nấu canh hay xào với hải sản đều rất ngon. Khi đơm hoa kết, những trái bí non nho nhỏ treo lủng lẳng trên giàn, nhìn rất bắt mắt. Thời điểm này, thường có nhiều ong, bướm tới để thụ phấn và lấy mật, một khung cảnh vô cùng thích thú khi được ngắm thiên nhiên ngay giữa lòng thành thị. Còn ở thôn quê, những giàn bí là nơi nghỉ trưa lý tưởng hay là nơi tụ họp đánh bi, chơi chuyền… của con nít. Quả bí là thực phẩm dự trữ tuyệt vời cho ngày đông lạnh giá vì không sợ mốc hay hư thối. Nồi canh bí nóng hổi, đĩa bí xào tôm thơm phức… ăn kèm với cơm nóng xua đi cái giá lạnh của mùa đông. Bí đao là loại quả đặc biệt vì vừa có thể ăn quả, lấy ngọn lại dùng được cả hạt. Hạt bí rửa thật sạch, phơi khô rang lên đóng gói kín, sử dụng đãi khách mỗi dịp Tết đến. Vỏ bí đao tính mát, lợi thủy, chỉ cần rửa sạch là có thể nấu canh ăn.
Ngoài dùng làm thực phẩm, bí đao còn được sử dụng để làm đẹp và chứa nhiều loại bệnh khác nhau. Với phụ nữ, mỗi ngày chăm chỉ xay bí đao hoặc bào mỏng đắp lên mặt sẽ giúp chữa trị tàn nhang giữ cho làn da tươi sáng. Đặc biệt, trong thành phần dinh dưỡng của mình, bí đao không chứa chất béo mà có chứa hợp chất hóa học hyterin-caperic giúp cơ thể chống lại sự tích lũy mỡ, chống tình trạng béo phì trong cơ thể. Nhưng ai có ý định giảm cân, hãy nấu canh bí đao ăn thường xuyên, kiên trì trong vòng 2 tháng sẽ thấy tác dụng rõ rệt.
Bí đao cuộn tôm
Nguyên liệu:
Bí đao: 1/2 kgTôm sú: 200gGạo: 1 lon30g hành lá, 1 thìa cà phê hạt nêm, ½ thìa cà phê muối, 1 thài cà phê tiêu xay, 20ml dầu ăn, nước mắm chua ngọt dùng kèm
Cách làm:
Bí đao gọt vỏ, rửa sạch, bào lát mỏng theo chiều dài quả bí. Trụng sơ bí qua nước sôi, vớt ra để ráo. Hành lá bỏ gốc, rửa sạch, chần sơ.
Gạo vo sạch, để ráo cho vào nồi cơm điện nấu chín, lấy cơm ra tô cho nguội.
Tôm sú rửa sạch, lột vỏ, bỏ đầu đuôi, chẻ lưng lấy chỉ đen, cắt hạt lựu. Ướp tôm với ít muối, tiêu, hạt nêm, để với ít muối, tiêu, hạt nêm, để thấm gia vị 10 phút.
Làm nóng ít đầu ăn, cho tôm đã ướp vào xào chín.
Trộn hỗn hợp cơm với tôm, nêm chút muối, hạt nêm vừa ăn. Trải miếng bí ra, cho hỗn hợp vào cuộn chắc tay sau đó buộc cố định bằng hành lá. Làm lần lượt đến hết nguyên liệu.
Đun sôi dầu ăn, cho bí vào chiên chín, vớt ra để ráo dầu.
Dọn bí đao cuộn tôm ra đĩa, dùng nóng với cơm, chấm nước mắm chua ngọt.
Bí đao hầm sườn
Nguyên liệu:
Sườn heo: 500gBí đao: 1 quảHành tím: 2 củ1 thìa cà phê muối, ½ thài súp hạt nêm, 2 thìa cà phê dầu ăn.
Cách làm:
Sườn heo rửa sạch, chặt miếng vừa ăn. Hành tím lột vỏ, rửa sạch, băm nhỏ. Ướp sương với ½ hành tím băm, muối, hạt nêm, để khoảng 15 phút cho thấm gia vị.
Bí đao gọt vỏ, rửa sạch, bỏ ruột, cắt miếng dày 3cm.
Làm nóng dầu ăn, cho ½ hành băm còn lại vào phi thơm, cho sườn vào xào săn lại, đổ 4 bát nước vào đun sôi, để lửa riu khoảng 20 phút. Cho bí vào đun sôi thêm 15 phút nữa, nêm muối, hạt nêm vừa ăn. Tắt bếp.
Múc canh bí hầm sườn ra tô, ăn nóng với cơm.
Bí hấp nấm, mọc
Nguyên liệu:
Mọc sống: 200gBí xanh: 1 tráiNấm linh chi: 100g100g nấm bào ngư, 50g cà rốt, 1 thìa cà phê bột năng; Nước mắm, muối, hạt nêm, đường, bột ngọt; Hành, ngò trang trí.
Cách làm:
Mọc vo thành từng viên nhỏ vừa ăn. Bí xanh gọt vỏ, bỏ ruột, cắt thỏi dài khoảng 5cm. Nấm linh chi, nấm bào ngư cắt bỏ chân, rửa sạch. Cà rốt gọt vỏ, băm nhỏ.
Cho hỗn hợp bí, nấm, mọc vào đĩa sâu lòng, đem hấp trong khoảng 7 phút cho tất cả nguyên liệu chín đều.
Khi nguyên liệu chín, chắt lấy phần nước hấp cho vào nồi, cho nước mắm, muối, hạt nêm, đường, bột ngọt vào quậy đều.
Cho nồi lên bếp bắc nhỏ lửa cho nóng lại, trút cà rốt băm nhỏ vào, cho tiếp bột năng vào quậy cho hỗn hợp sánh lại.
Cho bí đỏ, nấm, mọc vào đĩa sâu lòng, rưới nước xốt lên trên. Trang trí bằng hành, ngò, ăn kèm với cơm trắng.
Ruốc làm được nhiều món ngon. Nếu thích ăn ruốc còn tươi, có thể nấu canh với mướp, khổ qua, rau nhớt, rau tập tàng..., món nào cũng ngon tuyệt. Ruốc tươi cũng là một món hảo hạng khi được xào với giá đậu, cải tươi hoặc những loại rau vườn nhà quen thuộc như cải rổ, bông bí, cần tây. Ngoài ra còn có một “tuyệt chiêu” khác: ruốc tươi hoặc ruốc một nắng xào với đậu rồng. Đó là một phát hiện mới đầy “hứa hẹn” của các bà nội trợ.
Đậu rồng được nhiều người trồng vào mùa hè, đến cuối năm hết mưa, nắng ấm trái sai oằn dây. Loại đậu này có thể ăn sống, nấu canh, làm gỏi hoặc xào đều ngon, cung cấp cho cơ thể nhiều chất dinh dưỡng cần thiết. Nên chọn hái trái mập, thẳng, còn non về rửa sạch rồi thái ra từng đoạn ngắn vừa ăn.
Con ruốc xào đậu rồng là một phát hiện thú vị của các bà nội trợ. Ảnh: Mỹ Tuyết
Phi hành tỏi cho thơm rồi cho ruốc vào đảo qua, sau đó cho đậu rồng vào. Ruốc càng nhiều thì chảo xào mới ngon. Đậu rồng non, trái chia từng khía nên cũng nhanh thấm gia vị và nhanh chín. Khi lửa bén, chảo ruốc xào bốc khói nghi ngút cũng là lúc mùi thơm bay tỏa khắp nhà. Kỳ thực, con ruốc còn tươi có mùi ngai ngái nồng nồng nhưng khi được xào với trái đậu rồng thì nó tỏa mùi thơm ngọt ngào bay khắp xóm. Khi xào chín, người đảm đương khâu đầu bếp cho thêm gia vị và ít rau nêm, thế là cả nhà có một bữa ăn như ý.
Ngoài ăn với cơm, món bánh tráng nướng xúc ruốc xào đậu rồng còn được các đấng mày râu ở quê xem là một món “bắt” mồi rất nhanh. Trong những lúc chiều tà rảnh rỗi, mấy anh em hàng xóm trải chiếu ra bên hiên nhà, ngồi lai rai rất “đưa” mồi, ai cũng khen ngon khen ngọt.
Đi liền với những món được chế biến từ ruốc tươi, con ruốc phơi khô cũng là một thực phẩm tiện lợi khi sử dụng, thơm ngon, được để dành sử dụng cho nhiều món ăn khác nhau.
Người Huế thích ăn cay!
Khó có một vùng miền nào tại Việt Nam mà người dân lại thích ăn cay như xứ Huế. Những gia vị cay như ớt, tỏi, tiêu, hành... ở Huế tuy chẳng phải “đặc sản”, nhưng đã qua tay chế biến ở các đầu bếp dân gian trở nên nổi tiếng khắp nước.
Bánh bột lọc bọc tôm điểm bằng rừng ớt tươi
Đơn cử như ớt ở Huế có nhiều loại: ớt mọi, ớt hiểm, ớt chỉ thiên, ớt chìa vôi. Cách pha trộn làm nước ớt Vinh Xuân (Phú Vang) giúp gia vị này trở nên vô cùng nổi tiếng. Nước ớt Vinh Xuân không bị lên men, nấm mốc khi để cả năm trời, nhưng lại cực kỳ thơm ngon, từng được xuất khẩu sang Đông Âu và là món đặc sản của Huế không kém gì rượu làng Chuồn, cau Nam Phổ, trầu chợ Dinh, thanh trà Nguyệt Biều, quýt Hương Cần…
Hai ông “vua ớt” Bùi Ngọc Vinh, Bùi Ngọc Khánh từng được Đài KBS Hàn Quốc thực hiện phóng sự người ăn ớt như ăn khoai cũng xuất thân từ Huế. Ngày xưa ở Huế còn có làng Phong Lai được cho ăn ớt trừ cơm vào những ngày vụ mùa thất bát, đủ thấy người Huế ăn cay “siêu đẳng” đến cỡ nào!
Lý giải cho đặc điểm ẩm thực này là do người dân muốn chống lại cái lạnh và mưa dầm như một phương thức thích nghi với cuộc sống. Trong sử sách còn ghi, khi Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa, cư dân Việt đã học tập người Chăm về việc sử dụng gia vị cay (đặc biệt là ớt) để dung hòa với vùng đất và khí hậu còn lạ lẫm, mà Tố Hữu từng viết: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên?”.
Đa dạng món cay
Hằng ngày, trên bàn ăn của người Huế (gồm món canh, cá, thịt, dĩa rau sống…) luôn có một dĩa muối tiêu ớt, dĩa tương ớt hay một chén nước mắm ớt tỏi. Đặc biệt không thể thiếu tương ớt.
Tương ớt Huế là hỗn hợp gồm ớt tươi, tỏi tươi, muối, đường, dầu ăn và nước mắm ngon trộn lại. Người Huế dùng tương ớt nhiều trong những món ăn buổi sáng sớm (bánh mì, bánh canh…). Hiện nay, tương ớt Huế đã trở thành một món quà du lịch bên cạnh tôm chua, mè xửng vì nó hoàn toàn không có chất phụ gia độc hại mà còn rất tiện dụng trong những bữa ăn hàng ngày.
Chén nước chấm cho tô bánh canh Nam Phổ ở Huế
Đến Huế trong mùa này, khi cảm thấy sức nóng của những tách trà, độ ấm những chiếc áo bông không đủ làm nóng thân thể, du khách hoàn toàn có thể dùng đến các gia vị cay như ớt, tỏi, tiêu… trong buổi ăn để giữ thân nhiệt và đẩy lùi những căn bệnh mùa đông như nhức đầu, sổ mũi, cảm cúm…
Đầu tiên, phải kể đến bún bò Huế, món ăn có gốc tích từ thời các chúa Nguyễn vào đất Thuận Hóa. Ăn bún bò Huế vào những ngày mưa rét, du khách sẽ có ngay cảm giác cả thân thể được sưởi ấm tức thì bởi sức nóng hừng hực khi áp tay vào tô bún bò Huế vừa mới được múc từ nồi đỏ lửa đem lên.
Nồi bún bò Huế với nước bún, thịt bò, giò heo, chả tôm, gạch cua, huyết… được người phụ nữ Huế nêm nếm sả, ớt màu, ớt bột, tiêu, tỏi, hành… rất tính toán, cẩn thận, cốt sao để phù hợp với khí trời. Du khách chưa đủ “ép phê” còn có thể tự mình nêm nếm thêm ớt tươi, ớt tương hay nước mắm ớt tỏi.
Kế đến, không thể không nhắc đến món cơm hến, món ăn bình dân đặc trưng của cư dân cố đô. Một tô cơm hến, ngoài hến, lá môn, rau ngò, tóp mỡ, khế chua, nước hến… còn có vị cay đặc trưng của ớt, tỏi và gừng.
Vào một ngày mưa rét mà ăn được một tô cơm hến vào buổi sáng sớm, ắt hẳn du khách ai cũng phải xuýt xoa. Vị ớt, tỏi cay xè từ miệng, xộc lên sống mũi, nóng đến từng thớ thịt. Ăn xong tô cơm hến và uống một tô nước hến có gừng, du khách sẽ cảm thấy mồ hôi đổ ra, lưỡi tê rần, người "bốc hỏa" cả lên như ngồi bên bếp lửa hồng chống rét. Quả thật, cơm hến là một liều thuốc ẩm thực khá công hiệu khi vui chơi ở Huế trong những ngày giá lạnh.
Cơm hến đỏ màu nước ớt
Hít hà tô bún với ớt tươi
Ngoài bún bò, cơm hến, Huế còn có rất nhiều những món ăn có vị cay khá thú vị. Đó là vị cay của sả, ớt trong món ốc Trường An; vị cay của nước mắm ớt trong tô bánh canh Nam Phổ, trong dĩa bánh lọc bà Đỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm; vị cay của dĩa muối ớt ở quán chân gà nướng Mai Thúc Loan; vị cay của nồi nước lẩu của món lẩu dê Kim Long, lẩu hải sản Thuận An…
Bởi vậy, trong những ngày này, lượng khách đến những quán xá, địa điểm ẩm thực nói trên đều chật kín. Ai đến Huế đều nhớ về vị cay xứ Huế, như một trải nghiệm độc đáo vào những giá rét, mưa dầm trên mảnh đất cố đô.
Không biết nguồn gốc loại cây này từ đâu, nhưng những năm 1950 tôi đã thấy nó xuất hiện nơi các viền đất trống quê nhà. Thân cây so đũa suôn đuột vươn cao lên chừng năm, sáu thước với những cánh lá đối xứng màu xanh mát mắt, lủng lẳng thả những trái xanh dài kết quả mùa bông năm trước. Có lẽ vì cái thân cây và trái suôn dài nên người ta mới đặt tên nó như vậy?
Bông so đũa sẵn sàng cho nồi lẩu
Những buổi sáng sương còn đẫm lá cỏ bờ ao, lũ nhỏ tụi tôi cầm sào dài có móc hái những bông so đũa đẹp xinh. Bông búp cho vô rổ. Thích nhất là những cánh bông nở xòe. Chẳng làm gì, chỉ cần bứt bỏ nhụy phấn hồng, kê vô miệng, húp. Một dòng mật ngọt hoang dã chảy xuyên cổ xuống tận đáy dạ dày. Hái đầy một rổ bông đem về nhà sung sướng nghe má tôi khen mấy câu. Rồi má tôi xăng xái ra chợ mua mớ tôm càng xanh về lột bỏ vỏ, cắt khúc, bằm.
Má bắc nồi nước sôi, giằm me tươi vừa chua, vớt bỏ xác, cho tôm vào. Nước sôi đợt nữa, má cho những cánh bông so đũa đã rửa sạch, để ráo vô. Nước vừa sôi, má nhanh tay nhắc xuống bếp, múc ra tô, rắc ớt cùng ngò om xắt nhỏ lên. Tô canh nổi bật màu đỏ của ớt sừng trâu, màu xanh của rau ngò om trên màu trắng ngà gợi thèm của bông so đũa.
Gắp một đũa, ăn. Vị chua của me hòa mùi thơm cay mặn của gia vị và nước mắm, nhưng nổi bật hơn hết là vị nhân nhẩn của bông so đũa hòa vị ngọt của tôm càng xanh. Càng ăn càng thấy mồ hôi tươm ướt lưng áo. Ăn như vậy mới đã. Đã nhiều mặt. Mồ hôi túa ra giúp giải nhiệt cơ thể trong tiết trời nóng bức mùa nắng oi ả.
Vị cay của ớt ngoài giúp tăng ngon miệng còn có thể tiêu hủy calo nhanh, kích thích tiết nước bọt tạo nhiệt hữu ích cho cơ thể. Ớt có chất capsaicin giúp hạ huyết áp, cholesterol, đau khớp, suy nhược cơ thể và các vấn đề về tiêu hóa, chống ung thư tiền liệt tuyến và làm chậm các tế bào ung thư. Ớt lại có nhiều sinh tố A và các chất khoáng giúp ổn định nhịp tim, ngủ ngon. Riêng tôm càng xanh, ngoài ngon còn là một thức ăn bổ dưỡng. Nhưng ăn như vậy có người cho là quá lãng phí. Song, lãng phí sao được khi mà hồi hơn nửa thế kỷ trước tôm rẻ như bèo. Tôm bây giờ quý và mắc nên người ta thay bằng tép hoặc bằng cá lóc.
Mùa bông so đũa nở cũng là mùa tép bạc đất. Tép lột bỏ vỏ, rửa sạch xào với bông so đũa lặt bỏ nhụy, cũng đã rửa sạch, trên chảo nóng với mỡ hoặc dầu sẽ cho ta món ăn ngon. Vị ngọt của sông rạch trong con tép hòa vị ngọt của đất đai thổ nhưỡng trong từng cánh bông so đũa khiến bữa cơm thêm đậm đà. Thưởng thức món bông so đũa xào tép người ta còn có cái cảm giác giòn giòn của những đóa hoa trắng muốt “nổ” trong răng. Thật khoái thú.
Nhưng bông so đũa đâu chỉ có thể nấu chua và xào. Hiện nay, trong bất cứ thứ lẩu nào (lẩu chua, lẩu ngọt, lẩu mắm) cũng đều có sự hiện diện của thứ bông trắng ngà ưa nhìn này cùng hàng bao thứ rau xanh tươi khác. Càng ăn càng vô cùng hấp dẫn cái thần khẩu con người!
Phố huyện Phù Mỹ nằm cách TP.Quy Nhơn khoảng 60 km về hướng bắc. Người dân sống ở vùng này chủ yếu làm nghề nông, cách nấu món ăn tuy dân dã mà đậm đà, giàu hương vị.
Để có tô bún rạm Phù Mỹ thơm ngon hảo hạng, công đoạn làm bún cũng khá công phu. Hầu hết các quán bún rạm ở đây đều có một điểm chung là tự làm bún. Đầu tiên phải chọn loại gạo ngon từ những cánh đồng quê Phù Mỹ rồi ngâm nước, xay nhuyễn, gút qua túi vải, luộc sơ và để sẵn. Khi có khách, người bán chế biến bún tươi trong nồi nước sôi ngay tại chỗ, nên tô bún múc ra còn nóng hôi hổi, có cả bún và nước luộc bún mới ngon.
Mỗi tô bún còn được kèm theo một cái bánh tráng gạo nướng dày cộm, lúc ăn ta bẻ bánh nhỏ, cho vào tô trộn đều với gia vị.
Hòa trong cái vị ngon nguyên chất của bún tươi, con rạm nấu bún nhất thiết phải là loại rạm tươi ngon, không qua ướp đá lạnh, thân tròn, càng to, thịt chắc, gạch nhiều được bắt từ đầm Châu Trúc (còn gọi là đầm Trà Ổ) giáp với ba xã Mỹ Châu, Mỹ Lợi và Mỹ Thắng của huyện. Rạm bắt về ngâm nhiều nước cho sạch bùn đất rồi tách mai lấy gạch, xay nhỏ, lọc lấy nước, nấu trên lửa liu riu. Khi chín, nước rạm sánh lại sền sệt, nổi những váng mỡ màu vàng đặc cả nồi nước.
Bún rạm Phù Mỹ là sự hòa quyện giữa bún tươi và nước rạm. Trên bề mặt tô bún còn bốc hơi nghi ngút có những váng rạm vàng ươm, thơm nức mũi. Khi ăn bún rạm, ta có thể cho thêm ít chanh, ớt, vài hạt đậu phộng và rau sống. Mỗi tô bún còn được kèm theo một cái bánh tráng gạo nướng dày cộm, lúc ăn ta bẻ bánh nhỏ, cho vào tô trộn đều với gia vị. Và cứ thế bưng tô lên, vừa húp vừa ăn nóng hôi hổi, ăn ngon lành đến vã mồ hôi, ăn một tô rồi tiếp một tô nữa mới cảm nhận hết được độ thơm ngon của hương vị rạm miền quê.
Khách yêu món rạm đồng quê đến đây rất nhiều, từ bà con địa phương đến những người lãng du từ khắp mọi miền đất nước, từ trẻ con đến người lớn, từ người sang đến cả những người bình thường...
Trứng gói nhân ngũ vị
Thêm chút sáng tạo và sự tỉ mỉ vào món trứng chiên quen thuộc hàng ngày, bạn sẽ tạo nên một món ăn mới lạ và thật bổ dưỡng.
Nguyên liệu:
Tôm sú: 100grThịt nạc: 100gr4-5 tai nấm mèo, 2 quả trứng gà, 1 muỗng cà phê bột bắp, 1 củ hành tây, 1 chén bắp Mỹ, dầu ăn, gia vị, hành lá
Cách làm:
Tôm, thịt nạc băm nhỏ, ướp hạt nêm, nước mắm. Nấm mèo ngâm nở mềm, băm nhỏ với hành tây và hạt bắp Mỹ. Pho tỏi cho thơm, xào nấm mèo, hành tây, bắp Mỹ trước sau đó cho tôm thịt vào xào chung đến khi chín mềm.
Cho 1 muỗng cà phê bột bắp hòa với chút nước cho tan, đập trứng gà vào đánh đều cho thêm chút hạt nêm. Chiên trứng mỏng, tròn. Hành lá trụng nhanh để giữ màu xanh và độ dai. Cho 1 muỗng nhân vào giữa miếng trứng chiên, túm miệng và dùng hành lá cột lại. Xếp trứng chiên đã gói nhân ra đĩa và thưởng thức.
Cơm cuộn trứng và thanh cua
Khởi đầu một ngày mới với một món cơm cuộn trứng và thanh cua nhiều dinh dưỡng, cung cấp đủ năng lượng cho buổi sáng làm việc đầy hứng khỏi.
Nguyên liệu:
Thanh cua: 100grCải bó xôi, ngò tây: 50gr3 quả trứng, 1 chén cơm, tương ớt, ½ củ hành tây, nước tương, dầu ăn, bơ.
Cách làm:
Hành tây xắt hạt lựu. Cải bó xôi xay nhuyễn, lọc lấy nước, trộn với cơm để tạo màu xanh. Đun nóng chảo, cho vào 2 muỗng canh dầu ăn, ít bơ, phi thơm hành tây. Cho cơm vào đảo đều, nêm ít hạt nêm, đường, tiêu, chiên cho hạt cơm săn lại.
Đập trứng ra tô nhỏ, nêm ít hạt nêm, tiêu, đánh tan. Đun một chảo nhỏ, rưới ít dầu ăn, chảo nóng cho trứng vào tráng một lớp mỏng. Lấy trứng ra đĩa, để nguội. Trải lớp trứng ra thớt sạch, cho cơm trải đều lên trứng, đặt phần thanh cua ở giữa, cuộn đều.
Xắt cơm cuộn thành từng cuốn khoảng 3cm. Bày ra đĩa, trang trí ngò tay, cà chua bi. Thưởng thức kèm tương ớt, nước tương.
Bí quyết: Bắt đầu một ngày mới với sữa chua – một thức uống có lợi cho hệ tiêu hóa, giúp cải thiện tiêu hóa, điều hòa hệ miễn dịch và ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm cho cơ thể.
Cơm chiên trứng muối
Món cơm chiên đơn giản nhưng đẹp mắt và đậm đà vị trứng muối chắc chắn sẽ làm bạn thích thú mê ngất ngây khi ăn muỗng đầu tiên.
Nguyên liệu:
1 bát cơm trắng, 4 nấm hương, 2 lòng đỏ trứng muối, 1 nhánh tỏi, 2 muỗng canh dầu ăn, 1 nhánh rau mùi, hạt nêm, nước mắm.
Cách làm:
Tỏi đập dập. Nấm hương ngâm nước cho nở, thái chỉ. Trứng muối luộc chín, bóc vỏ, lấy lòng đỏ nghiền mịn.
Cho khoảng 3 muỗng canh dầu ăn vào chảo, xào nấm hương với khoảng 1 muỗng canh nước mắm, để qua một bên.
Cho tiếp dầu ăn vào chảo, phi tỏi thơm, cho lòng đỏ trứng muối vào đảo nhanh tay. Cho tiếp cơm vào chảo đảo đều cho đến khi hạt cơm săn lại. Nêm thêm khoảng 1 muỗng cà phê nước mắm, 1 muỗng cà phê hạt nêm cho vừa ăn. Cho tiếp nấm hương vào đảo đều. Xúc xơm ra bát, trang trí với một nhánh mùi. Dùng nóng.
Các bà các chị ở quê tôi ít khi đợi đến lúc những trái mướp căng tròn, buông thõng trên giàn mới nghĩ đến việc nấu món ngon từ mướp. Ngay khi mướp vừa ra nụ là đã có thể đem đến cho bữa cơm một món hấp dẫn.
Đến mùa kết trái, hoa mướp thường ra thành từng chùm vàng rực, trong đó những bông hoa cái nảy thành trái mướp, còn lại là những nụ hoa đực. Và cứ mỗi sáng, sương mai còn đọng trên cành, những chú bướm, chú ong cần mẫn tung cánh bay đến những nụ hoa đực hút lấy nhụy hoa, bay sang thụ phấn cho hoa cái, để rồi theo năm tháng những quả mướp ra đời.
Dân dã món mề gà xào nụ mướp. Ảnh: Hòa Nhơn
Không như nụ hoa đực của các loài cây khác thường bị lãng quên, nụ hoa mướp được những người nông dân chân lấm tay bùn nâng niu, sử dụng để chế biến thành món ăn mang đậm hương vị dân dã, đó là món mề gà xào nụ mướp vô cùng hấp dẫn. Trước tiên mề gà rửa sạch với muối hạt, dùng dao khía dọc theo phần dày nhất của mề gà, thái ngang miếng mề thành những lát mỏng khoảng 0,3 đến 0,5 cm. Ướp mề gà với hành tím, gia vị: mắm, tiêu, bột ngọt khoảng 5 phút.
Cho mề gà đã thấm gia vị vào chảo đảo đều, khi mề gà chín, múc ra đĩa để riêng. Tiếp tục làm nóng chảo và dầu ăn với lửa to, cho nụ mướp đã rửa sạch vào, đảo nhanh tay. Khi thấy nụ mướp chuyển màu, trút mề gà vào, đảo đều rồi tắt bếp, múc ra đĩa và điểm lên mặt một ít hành ngò.
Vị ngọt thơm nhẹ của nụ mướp, cái sần sật giòn giòn của mề gà sẽ gây khoái khẩu ngay từ lượt gắp đầu tiên...
Trời chuyển đông, khi những tia nắng nhẹ xuất hiện sau cơn mưa kèm không khí se lạnh cũng là lúc dọc theo bờ rào, bụi cây, gò đất... quê tôi xuất hiện nấm mối. Về quê mùa này là tha hồ đi nhổ nấm mối về nấu canh lá lốt.
Một tô canh nấm mối được nấu trong vòng chưa đến 10 phút - Ảnh: Hương Cát
Ở quê tôi, nấm mối chỉ xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 12 (âm lịch), sau những ngày mưa kéo dài, không khí lạnh và nắng bắt đầu hanh hanh. Biết được đặc tính đó nên cứ sau những đêm mưa, sáng sớm trời tạnh nhưng vẫn còn se lạnh, tầm 5 - 6g khi chị em tôi vẫn còn cố ngủ vùi trong chăn, má đã rủ rỉ: “Trời tạnh rồi đó con, dậy đi kiếm nấm mối đi con”.
Nghe thế, dù vẫn còn quấn kín trong chăn, ngáp ngắn ngáp dài nhưng mấy chị em đã bật dậy khỏi giường, xuống bếp xách vội cái rổ, đội cái nón (cho sương sớm không thấm ướt) rồi dạo quanh mấy bụi cây, bờ rào (những chỗ ẩm ướt nhưng cao ráo) nấm thường hay mọc.
Nấm mối thường mọc từng khoanh trên nền đất, trong bờ rào, trên bờ ruộng và có khi ngay trong vườn nhà. Nội tôi nói “nấm sáng nở chiều tàn”, nấm mối nhú khỏi mặt đất vào ban đêm nên sáng sớm đi hái là tốt nhất, nếu để chiều nấm sẽ nở to (không còn ngon) hoặc tàn mất.
Nấm mối thường mọc trong bụi cây, gò đất sau những cơn mưa - Ảnh: Hương Cát
Nấm mối mới nhú trông rất giống nấm rơm, phía trên tai nấm có màu tro. Qua một ngày, nấm nở bung ra, có thể nhìn thấy màu trắng sữa phía dưới tàn nấm, cao không quá 5cm. Khi hái nấm phải chú ý không dùng các vật bằng kim loại như dao, cuốc, xẻng vì sẽ làm nấm mất ngon. Người sành ăn nấm chỉ nhổ bằng tay, đưa tay cầm sát gốc nấm lay lay vài cái, nấm sẽ nhích khỏi mặt đất, rút lên bỏ vào rổ.
Nấm hái về, nội và má quây lại bên cả rổ đầy làm sạch đất, còn hai chị em tôi thì ra vườn hái lá lốt. Theo những cụ già ở quê, gọt chân nấm cũng chỉ dùng que tre hoặc cây củi vót nhọn (không nên dùng dao, sắt) để cạo sạch đất. Cạo xong thì xé nấm nhỏ ra từng miếng để khi nấu nấm sẽ chín đều, vì phần tai nấm mềm nhanh chín hơn thân nấm.
Cạo sạch đất ở gốc nấm mối - Ảnh: Hương Cát
Canh nấm mối nấu lá lốt xắt nhỏ là lựa chọn hàng đầu của người dân xóm tôi. Món này vừa ngon, vừa không tốn tiền mua nguyên liệu nấu kèm bởi lá lốt ở quê nhà nào cũng có. Chỉ cần bắc nồi nước lên bếp, chờ nước sôi, bỏ nấm mối và lá lốt vào, đậy nắp khoảng 5 phút, khi mùi thơm của nấm, mùi ngai ngái của lá lốt bốc lên theo làn khói thì bắc xuống cho ít gia vị muối, bột ngọt, tiêu. Chỉ thế thôi nhưng đủ có nồi canh nấm mối - lá lốt cực ngon.
Má nói nấu nấm mối đừng khử dầu ăn vì mùi dầu, với vị béo của nó sẽ làm mất đi vị ngọt, mùi thơm của nấm. Và vị đăng đắng của lá lốt kết hợp vị ngọt của nấm từ lâu đã trở thành món ăn ưa thích của gia đình tôi.
Ngoài món canh nấm mối nấu lá lốt, nấm mối còn được chế biến thành rất nhiều món ăn ngon như nấu canh thịt bò, dùng để xào, nướng lá chuối với muối hột, nấm mối cũng được dùng làm nhân đúc bánh xèo... Vì thế, năm nào nấm mối mọc nhiều, người dân quê tôi đổ xô đi nhổ nấm mối về bán với giá từ 5.000 - 8.000 đồng/lạng.
Nhiều du khách đến Bà Rịa - Vũng Tàu cho rằng, "gu" ẩm thực biển không chỉ ăn ngon miệng mà phải nghe vui tai, nhìn thích mắt và thả hồn theo tiếng sóng biển. Hiểu được tâm lý này, các nhà hàng hải sản biển thường có bể nước chứa hải sản tươi sống. Thực khách có thể nhìn thấy những con tôm hùm giương càng, những con cá chình, những chú cá mú... bơi lội tung tămg trong bể nước.
Từ lâu, quán Gành Hào được du khách biết đến là một điểm thưởng thức ẩm thực biển nổi tiếng. Ngoài vị trí đẹp, khung cảnh lãng mạng nằm ngay bờ biển, quán Gành Hào còn có nhiều món lạ, độc đáo. Những món như gỏi cá bóp, các món nướng với gia vị đặc trưng khiến du khách nhớ đến quán. Giá cả ở các quán được niêm yết rõ ràng và bán đúng giá niêm yết, có lẽ đó cũng là yếu tố khiến du khách du lịch tin tưởng.
Ngoài những quán ăn ven biển, nhiều quán ăn trong các con hẻm nhỏ cũng nổi tiếng lâu đời với những món ăn đặc trưng của vùng biển mà mỗi lần đến Vũng Tàu du khách lại muốn ghé thưởng thức. Quán Vườn Xoài (hẻm 345 Hoàng Hoa Thám, Tp. Vũng Tàu) có nhiều món ăn ngon nhưng nhắc đến Vườn Xoài không thể không nhắc đến món gỏi cá mai. Theo chủ quán để có một đĩa cá mai ngon phải chọn loại cá tươi đánh vảy rửa sạch, rút xương rồi ướp với dấm, chanh tỏi, ớt sau đó làm chín, cá mai ăn kèm với rau sống cuốn bánh tráng và chấm nước chấm chua ngọt, trộn đậu phộng và mè rang. Món ăn này mang mùi vị rất đặc trưng: vị ngọt của cá tươi, vị béo của đậu phộng, mè, thính, vị chát của chuối xanh, vị chua của khế, vị giòn ngọt của dưa leo, vị cay của ớt tỏi và hương thơm của các loại rau mùi,... khiến du khách ăn một lần lại muốn trở lại.
Những món ăn đặc trưng của vùng biển không chỉ có ở Tp. Vũng Tàu mà còn trải dài khắp các địa phương của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nếu đến Bà Rịa, Long Hải, Đất Đỏ, du khách có thể tìm thấy rất nhiều loại hải sản ngon và hợp túi tiền như: Nhà hàng Phương Trang, nhà hàng Lộc An Resort (Đất Đỏ), quán Kiệt (huyện Long Điền) hay Vườn Tao Ngộ (Tp. bà Rịa)... không chỉ có mặt ở những quán ăn đơn thuần mà các món ăn đặc trưng của vùng biển Bà Rịa - Vũng Tàu còn được đưa vào thực đơn của các nhà hàng, khu du lịch sang trọng. Món canh chua tương me được nhiều người biết đến tại khu du lịch và khách sạn Thùy Dương. Đây là món đặc sản của làng chài Phước Hải, cá được dùng để nấu canh tương me thường là cá đù, cá lò, cá ngao, nhưng ngon nhất là đầu cá Thiều. Món canh chua tương me có mùi vị đặc trưng với mùi tương, sả, và me thơm ngon quyện vào nhau.
Ẩm thực Bà Rịa - Vũng Tàu thật phong phú, đa dạng nếu thưởng thức hết phải tốn khá nhiều thời gian. Những du khách thích khám phá, có thể trở lại vùng đất này nhiều lần nữa.
Tuy nhiên, món ăn phổ biến và khiến người ta phải nhớ nhiều nhất khi đi xa chính là món bún dọc mùng tinh tế của người Hà Nội. Bát bún dọc mùng hội tụ cả hương lẫn sắc. Này là màu xanh mướt mát của cọng dọc mùng mơn mởn, này là màu vàng hấp dẫn của miếng chân giò được ướp từ nghệ, này là màu đỏ tươi của lát cà chua chín mọng. Rồi thì cái hương vị chua chua nồng nồng của sấu trong nồi nước dùng cứ thôi thúc người ăn, cái giòn sần sật mà rất ngọt của từng lát dọc mùng khiến chẳng ai muốn buông đũa, thêm một chút béo thơm của miếng chân giò hấp dẫn.
Món ăn phổ biến và khiến người ta phải nhớ nhiều nhất khi đi xa chính là món bún dọc mùng tinh tế của người Hà Nội. Ảnh: Cẩm Linh
Nhiều bạn bè tôi ở Sài Gòn ra công tác, thay vì bảo dẫn đi ăn phở thì bây giờ lại muốn thưởng thức bát bún dọc mùng đúng chuẩn Hà Nội. Và bao giờ sau khi thưởng thức trọn vẹn một bát bún dọc mùng cũng hỏi phương cách chế biến. Nói chung, các bà các cô bán hàng thường cười xuề xòa bảo là đơn giản lắm. Ấy vậy chứ sự tinh tế trong cách chế biến mới khiến cho cho món bún dọc mùng trở nên khác biệt.
Nếu bạn muốn tự chế biến món bún này tại gia chỉ cần lưu ý mấy bước cơ bản: dọc mùng xắt vát dài, bỏ vào bát to rồi rắc muối vào ngâm độ chừng 30 phút mang ra xả nước lạnh và bóp kiệt nước là được. Nhớ phải đeo găng tay cho khỏi ngứa. Chân giò và sườn nên bóp sạch bằng muối, rửa qua nước lạnh rồi xát chanh tươi lên rửa qua một lần nước nữa để khử mùi. Rưới nước cốt nghệ lên tất cả chỗ thịt đấy, dùng tay bóp cho đều để miếng thịt ngấm dần cái màu vàng ươm như nắng hè ấm áp. Cho tất cả vào nồi đun sôi lên, sau đó vặn nhỏ lửa.
Khi chân giò và sườn đã chín (nhưng nhớ là không được chín nhừ quá vì như vậy sẽ mất đi cảm giác sần sật khi ăn) thì cho sấu vào để tạo độ chua. Nồi nước dùng đã đủ chua chỉ cần cho tiếp dọc mùng, cà chua vào đun sôi lên rồi mới cho hành lá, mùi, mùi tàu vào, nêm nếm vừa đủ là đã hoàn thành xong một món ăn ngon cho cả gia đình.
Trong gian bếp, Tết bao giờ cũng đến sớm. Để đón Tết, có trăm thứ phải lo, nhưng đối với các bà chủ gia đình thì lo món ăn ba ngày Tết là ưu tiên một. Miền Trung, từ Quảng Nam đến Bình Định, ngày Tết lúc nào cũng phải có món thịt thưng.
Tương truyền rằng, thịt thưng có từ thời Tây Sơn. Trong cuộc hành quân Bắc tiến đại phá quân Thanh, trên con đường thiên lý hiểm trở, gian nan, quân lính chỉ mang theo bên mình toàn lương khô gồm bánh tét, thịt thưng, bánh tráng. Đói thì mở bánh tét hoặc dùng bánh tráng cuốn thịt thưng mà ăn, chẳng cần phải dừng lại nấu nướng để không làm chậm việc quân. Bánh tráng, bánh tét, thịt bò thưng đã góp phần làm nên chiến thắng Đống Đa lừng lẫy vào đầu Xuân năm Kỷ Dậu 1789. Món ăn của quân đội Tây Sơn hơn 200 năm trước ngày nay đã trở thành món ăn truyền thống của người Bình Định mỗi dịp Tết đến, xuân về.
Thịt thưng làm bằng thịt bò, sau này một số gia đình còn làm thưng bằng thịt heo để món ăn danh tiếng này thêm đa dạng. Để nấu món bò thưng, người ta phải dậy sớm, ra chợ chọn mua thịt thăn bò mới xẻ. Chọn thịt thăn nguyên khối, dày cỡ 4 - 5cm, dài khoảng hai, ba tấc. Lạng theo sớ dọc của miếng thịt dày khoảng 1cm. Lạng như vậy thịt sẽ liền, rộng bản, dễ cuốn. Nhờ lạng sớ dọc nên khi nấu thịt không bị rã, nát. Ướp thịt bò với đường, nước mắm, muối, tiêu, hành tỏi giã nhỏ, ngũ vị hương và dầu ăn. Xong, để thịt đã ướp vào nơi mát khoảng 30 phút cho thấm. Mỡ gáy heo là nguyên liệu quan trọng thứ nhì sau thịt thăn bò. Phải đúng mỡ gáy, vì khi nấu chín, thỏi mỡ sẽ giòn, xốp, ngon hơn mỡ ở những vị trí khác trong con heo. Mỡ heo cắt thành thỏi độ 1x1cm, dài bằng miếng thịt bò rồi ướp với đường, muối, để trong mát khoảng 30 phút. Sau đó trải miếng thịt bò ra, đặt thỏi mỡ vào giữa và cuốn thật chặt tay, sau cùng dùng dây gai cột lại.
Bắc chảo dầu già lửa, cho những cuộn thịt vào chiên vàng đều, tiếp theo cho thịt vào nồi đổ nước ngập mặt thịt, nấu lửa liu riu. Canh một lúc thì lật từng cuộn thịt và múc nước rưới đều lên. Cứ như thế cho tới khi nước trong chảo sánh lại còn xăm xắp. Lúc này cuộn thịt săn lại, ánh lên màu cánh gián, mùi thơm tỏa ra sực nức, vậy là thịt thưng đã hoàn tất.
Thịt thưng có thể để dành cả tuần ở nhiệt độ bình thường. Ngày đầu năm mọi người đi chúc Tết, đi chơi, về tới nhà không lo nấu nướng. Đem thịt thưng ra cắt lát, màu thịt đỏ nâu mềm mại, cuốn với bánh tráng, rau sống chấm nước mắm, vị thịt ngọt thơm, nước mắm đậm cay ăn tới no mà không ngán. Cũng có thể trộn thịt với xà lách dầu giấm, làm món nhắm với ly rượu đầu xuân, còn gì thú vị hơn.
Nhưng để người ăn thốt được cái tiếng ấy cũng phải có bí quyết. Chuyên gia ẩm thực Bùi Thị Sương chia sẻ một trong những cách luộc để có được miếng dồi trường mềm nhưng vẫn giòn. Đó là kỹ thuật luộc 2 sôi, 3 lạnh của người Bắc: dồi trường mua về, làm sạch rồi cho vào ngăn đá tủ lạnh, khi đã đông đá thì bỏ vào nồi luộc cho tới khi thấy nước sôi thì lấy ra, lập tức ngâm vào nước đá, đến khi miếng lòng nguội hẳn thì tiếp tục luộc trên bếp rồi lại ngâm vào nước lạnh. Cách này khiến cho miếng dồi trường chín nhưng giòn. Ngoài ra, cô Sương cũng cho biết, dồi trường ngon nhất là lúc con heo đã đủ lớn nhưng chưa đẻ, dồi trường của nó sẽ căng, mọng và rất ngon.
Dồi trường ngon nhất là lúc con heo đã đủ lớn nhưng chưa đẻ, dồi trường của nó sẽ căng, mọng và rất ngon. Ảnh: Hạ Huy
Có lẽ bởi vì dồi trường heo đã quá ngon rồi nên chẳng cần phải chế biến gì nhiều, chỉ cần luộc lên, chấm đẫm vào chén mắm tôm thơm nức mũi, thêm vài ba cọng rau thơm điểm vị nữa là đã đủ cho một món ngon bậc nhất thiên hạ.
Tuy nhiên, cũng như tất cả các nguyên liệu khác, vô tay các bà nội trợ Việt thì cứ biến tấu liên miên, khi dồi trường hấp hành gừng, lúc dồi trường chấy tỏi, phút cao hứng lại có đĩa dồi trường xào bông hẹ xanh xanh, trắng trắng thật bắt mắt... Các bà nội trợ thì thế, còn các ông thì món dồi trường nào cũng gật, chỉ cần thêm một tí cay cay là đủ để lên tới chín tầng mây.
Tôi còn nhớ khoảng thập niên 1960, về Cà Mau thăm người thân vào mùa cá kèo, người dân nơi đây mỗi lần giở đáy lên được hàng trăm ký. Vì cá quá nhiều, không đủ lu, hũ để chứa, nên có người phải đào hầm nhỏ cặp mé kênh để rộng cá. Con cá kèo thuở ấy giá rất rẻ, bán cũng như cho. Chính vì thế trong từ ngữ dân gian Nam bộ còn lưu truyền từ mua vé xem cải lương “hạng cá kèo” (ám chỉ vé hạng bét, hạng bình dân giá rẻ ngồi cuối rạp!) đến ngày nay.
Cá kèo (còn gọi cá bống kèo) là loại cá da trơn sinh sống ở môi trường tự nhiên vùng nước lợ, nhiều nhất là ở Cà Mau. Cá kèo xuất hiện vào mùa mưa (nhiều nhất vào con nước rong), khi những hang cá bị chìm sâu dưới nước, khiến chúng nổi lên trôi theo dòng chảy trên các kênh rạch trông từ xa tựa như những trái mù u. Và người dân nơi đây thường đóng đáy để đánh bắt.
Nói thế có lẽ chỉ là hoài niệm vì bây giờ con cá kèo đã “lên ngôi” và nghiễm nhiên vào các quán ăn, nhà hàng với những tên gọi mỹ miều là món “đặc sản”, giá cả cũng không còn rẻ như xưa nữa.
Đĩa cá kèo kho dưa cải dân dã- Ảnh: Thanh Tâm
Cá kèo sở dĩ được mọi người ưa chuộng vì hương vị đặc biệt khó quên do bộ ruột cá béo, mật cá đăng đắng. Ai ăn cá kèo mà không ăn được bộ ruột cá kể như chưa phải là người sành ăn. Cá kèo chế biến được nhiều món ăn đặc trưng của miền đồng bằng sông nước Cửu Long: cá kèo kho mặn, nấu canh chua, nướng ống sậy, nhúng lẩu, kho mắm, làm khô… Nhưng đặc biệt dân dã và dễ làm là cá kèo kho dưa cải.
Cá kèo mua ở chợ (hay đánh bắt được) phải lựa cá còn thật tươi cho vào rổ. Xé nhỏ lá chuối tươi bỏ lên và dùng tay chà xát, xả nước lạnh vài lần cho sạch nhớt. Dùng dao cắt bỏ phần miệng và đuôi cá (không mổ bụng bỏ ruột), thế là xong. Người có kinh nghiệm luôn dặn đừng dùng muối chà xát cũng như cắt cá ra làm đôi khi chế biến cá sẽ cứng mất ngon.
Kế đến, dưa cải (chọn loại dưa có vị chua) rửa sạch, cắt bỏ lá chỉ lấy cọng, xắt lát mỏng vắt ráo. Cho dưa cải vào chảo xào với mỡ (dầu) tỏi cho thơm. Đổ nước lạnh vào ngập xâm xấp với dưa cải và cho gia vị (nước mắm, bột ngọt, đường, nước màu…) cho vừa khẩu vị và màu sắc hấp dẫn. Điều chỉnh lửa liu riu cho đến khi nước ướp thấm vào, dưa cải vừa mềm cho cá kèo vào.
Cá kèo “nhát” lửa chín nhanh, chờ lửa sôi vài dạo, dùng đũa bẻ cá gãy ra làm đôi là được. Cho thêm hành lá xắt nhuyễn vào chảo nhắc xuống, múc ra đĩa. Muốn đậm đà hương vị và màu sắc bắt mắt cho vài trái ớt hiểm chín và một ít tiêu xay vào là xong.
Cầm đũa gắp phần đầu (nơi có ruột cá) cùng với miếng dưa cải cho vào miệng nhai chậm rãi, sẽ cảm nhận được vị “đăng đắng, beo béo đặc trưng” của mật hòa quyện cùng vị chua chua, giòn giòn của dưa cải như kích thích mọi giác quan. Thêm miếng cơm nóng vào nữa khiến bao tử bạn như thôi thúc đòi ăn tiếp chén thứ hai, thứ ba… Thoáng chốc, nồi cơm được vét sạch veo lúc nào không hay biết!
Nguyên liệu:
Tai nấm đông cô: 400grThịt nạc xay: 50grGiò sống: 50grBông thiên lý: 50gr½ củ hành tây, dầu hào, 2 tép tỏi băm, dầu ăn, đường, tiêu, muối
Cách làm:
Nấm đông cô ngâm cho mềm, cắt bỏ phần gốc. Rửa sạch với nước, để ráo. Hành tây lột vỏ, xắt hạt lựu. Rau thiên lý rửa sạch, luộc sơ (để trang trí). Trộn đều thịt nạc xay, giò sống, hành tây xắt hạt lựu. Rau thiên lý rửa sạch, luộc sơ (để trang trí). Trộn đều thịt nạc xay giò sống, hành tây xắt hạt lựu, tỏi băm nhuyễn với ½ muỗng và phê hạt nêm, ½ muỗng cà phê đường, muối, tiêu cho vừa ăn.
Múc thịt nhồi vào tai nấm. Nắn tròn đều. Quét một chút dầu ăn lên mặt. Sắp các tai nấm vừa ngồi vào đĩa, bọc màng bọc thực phẩm, cho vào lò vi sóng quay chín.
Nấm chín lấy ra cho vào đĩa tròn hoặc tô dẹt (có trải 1 lớp thiên lý đã trụng sơ), rưới sốt dầu hào lên nấm, dùng nóng. Sốt dầu hào: Đun sôi 3 muỗng canh dầu hào, 2 muỗng canh nước tương, ½ muỗng cà phê đường, ít nước lọc, khuấy đều.
Đậu hũ và cải thìa xào tỏi sốt cay
Món xào cung cấp nhiều vitamin và chất xơ rất tốt cho hệ tiêu hóa. Với cách chế biến đơn giản, bạn hãy làm phong phú cho thực đơn bữa tối với món ăn này.
Nguyên liệu:
Cải thìa: 500gr1 cây đậu hũ non, 2/3 chén nước dùng, 1 muỗng nhỏ bột bắp, 1 muỗng cà phê tỏi xay, 1 muỗng canh dầu ăn, 1 muỗng canh dầu hào, 1 muỗng canh nước tương, dầu mè, hạt nêm
Cách làm:
Nấm đông cô luộc với ít hành, cần, gừng xắt lát khoảng 10 phút sau đó cắt bỏ chân để ráo nước. Cải thìa cắt rửa sạch, trụng sơ, ngâm qua nước đá, để ráo nước. Tỏi lột vỏ, xắt lát phi thơm với ít dầu ăn. Đậu hũ xắt lát khoảng 1 cm.
Đun nóng chảo, rưới vào khoảng 2 muỗng canh dầu ăn, dầu nóng cho tỏi vào phi thơm sau đó cho nấm đông cô, cải thìa vào xào. Nêm 1 muỗng canh dầu hào, 1 muỗng canh nước tương, 1 muỗng canh dầu mè, 1 muỗng cà phê hạt nêm vừa ăn rồi cho đậu hũ vào, thêm nước dùng, ít bột bắp cho nước sánh lại, tắt bếp. Múc ra đĩa, trang trí, dùng nóng.
Gỏi xoài khô cá lóc
Món gỏi đủ vị chua, cay, mặn, ngọt và béo béo từ thịt cá lóc chiên giòn làm nên món khai vị thật tuyệt!
Nguyên liệu:
Phi lê cá lóc: 400gr4 trái xoài xanh (gần chín), rau răm, tiêu, nước mắm, đường, ớt, chanh, đậu phộng, hành phi.
Cách làm:
Phần thịt cá lóc rửa sạch, để ráo, ướp ½ muỗng cà phê hạt nêm, tiêu, chút muối để 5 phút cho thấm. Bắc chảo dầu nóng, cho cá lóc vào chiên đến khi vàng giòn, vớt cá ra giấy thấm dầu, để nguội, xé từng miếng nhỏ vừa ăn.
Xoài gọt vỏ, bào sợi. Rau răm rửa sạch, để ráo, xắt nhỏ. Ớt bằm nhuyễn. Chanh vắt lấy nước cốt. Trộn xoài với cá khô, rau răm, rưới nước mắm gỏi, trộn đều. Múc gỏi ra đĩa, rắc đậu phộng và hành phi lên mặt, thưởng thức
Nước mắm gỏi: 4 muỗng canh đường, 2 muỗng canh nước mắm, 2 muỗng canh nước chanh, ớt bằm, khuấy đều.
Thiên nhiên ưu đãi cho Hà Tiên một tổng thể hài hòa vừa có núi, có biển, đảo và đồng bằng kết hợp thành một vùng đất đẹp như tên gọi. Tại đây, bạn cũng có thể mua vé tàu cao tốc đến Phú Quốc, chỉ mất khoảng 1h45'.
Đây là xứ sở được tổng binh Mạc Cửu khai hoang từ rất xa xưa. Tương truyền, ngày xưa vì mến cảnh trần gian nơi đây có nhiều cảnh đẹp, non nước hữu tình, tiên nữ thường xuất hiện trên sông Giang Thành nên Mạc Cửu đặt tên là Hà Tiên. Đến với vùng đất xinh đẹp này, bạn sẽ được thăm quan rất nhiều cảnh xinh đẹp như: hòn Phụ Tử, núi Đá Dựng, Thạch Động, Đông Hồ, núi Ngọc, bãi tắm Mũi Nai, chùa Tam Bảo, cây dừa 4 ngọn, lăng Mạc Cửu…
Người dân tại Hà Tiên sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt tôm, cá biển, làm tôm khô, cá khô, buôn bán, nuôi tôm, cá...
Nơi đây có nhiều bãi tắm và Mũi Nai là một trong 10 thắng cảnh đẹp tại Hà Tiên, thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan.
Những buổi sớm mai, sẽ không còn gì thú vị bằng khi bạn ra ngồi ngay bến Đông Hồ để vừa nhâm nhi ly café, vừa ngắm bình minh sớm mai tuyệt đẹp.
Từ thị xã Hà Tiên, bạn cũng có thể tiếp tục đến tham quan một số quần đảo, đảo tuyệt đẹp nằm trong tỉnh Kiên Giang như: quần đảo Hải Tặc, ngồi tàu cách thị xã hơn 1h để khám phá vẻ đẹp hoang sơ và nhiều hải sản nơi đây.
Đến với vùng đất xinh đẹp này, bạn sẽ được thăm quan rất nhiều cảnh xinh đẹp như: hòn Phụ Tử, núi Đá Dựng, Thạch Động, Đông Hồ, núi Ngọc, bãi tắm Mũi Nai, chùa Tam Bảo, cây dừa 4 ngọn, lăng Mạc Cửu…
Những món ăn tại thị xã Hà Tiên cũng là sự kết tinh giữa các dân tộc Việt - Hoa - Khơme rất đặc trưng như: xôi Hà Tiên, hủ tiếu hấp, bún nước kèn, bún nhâm tôm khô, bánh tằm bì, nem nướng, bánh canh hải sản…
Cơm ghẹ là món ăn đặc trưng tại xứ sở xinh đẹp này
Bánh canh hải sản đậm chất Hà Tiên
Hải sản tại đây cũng rất tươi ngon
Xôi Hà Tiên được xem là món ăn ngon, hấp dẫn, được nhiều người ưa thích